Trang chủ Chuyên mục tin tức Chuyên mục tin tức

Hỏi đáp
(Ngày đăng :25/08/2016 12:00:00 SA)

 

 

 

 Câu hỏi 

Kính gửi Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu, tôi xin trình bày một việc như sau:

Tôi có miếng đất là đất vườn đã được UBND thành phố cấp sổ đỏ nay muốn chuyển mục đích sử dụng đất thì được phòng tài nguyên và môi trường thông báo là không phù hợp với quy hoạch chung đô thị, qua kiểm tra thì có phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2017. Theo như tôi tìm hiểu thì chuyển mục đích sử dụng đất chỉ cần phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại luật đất đai và nghị định 43 về hướng dẫn thi hành luật đất đai. Vậy tôi xin được hỏi và đề nghị 2 nội dung như sau:

1. Phòng tài nguyên và môi trường trả lại hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất do không phù hợp với quy hoạch chung đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là đúng hay sai, căn cứ vào quy định, văn bản luật và văn dưới luật nào?

2. Trường hợp gia đình tôi nếu được chuyển mục đích sử dụng đất thì đề nghị sở TNMT làm văn bản để hướng dẫn cho phòng TNMT thành phố để tao điều kiện giúp gia đình tôi.

Tôi xin chân thành cám ơn

Người hỏi : Nguyễn Văn Bình - Địa chỉ : Phường đông phong, thành phố lai châu - Điện thoai :  
Thư điên tử : miencattrang.ma@gmail.com 

  Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 

Sau khi xem xét, nghiên cứu, Sở Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

 

- Theo quy định tại Khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai thì đất vườn (đất trồng cây lâu năm) khi chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đồng thời phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể: Phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất.

 

- Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố trên cơ sở Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất của gia đình lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.

Như vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên, nếu đất vườn (đất trồng cây lâu năm) của gia đình ông đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên thì được phép chuyển mục đích sử dụng đất.

 Tải câu trả lời tại đây 


 

 Câu hỏi 

Tôi muốn hỏi: theo tôi được biết năm 2007 chủ tịch tỉnh lai châu đã ký quyết đinh hủy bỏ sổ đỏ của những cán bộ công nhân viên  thuộc xã binh lư(cũ), có sổ đỏ đất rừng thuộc bản Chu Va 12 - xã sơn bình hiện nay. mặt khác tôi được biết các sổ đỏ mà các cán bộ công nhân viên xã Bình Lư(cũ) vẫn đang sử dụng và có các chinh sách hỗ trợ của nhà nước, vây tôi muốn hổi sở tài nguyên môi trường tỉnh lai châu Quyết định này hiện nay còn hiệu lực không? số QĐ? tại sao đã có quyết định hủy ma hiện nay những người này vẫn còn sồ đỏ?, tôi muốn hỏi có sỏ đỏ ma chưa canh tác gì nhân dân vào canh tác trồng rừng không ai nói gi như khi nhân dân lên làm nhà trong rừng thì nhân dân mới biết khu vực đó là sỏ đỏ của các ông thuộc cán bộ xã sơn bình(cũ) vậy bà con nên làm gì?.

 Người hỏi : Vàng A Chinh - Địa chỉ : bản Chu Va 12 - Sơn Bình - Tam Đường - tỉnh Lai Châu - Điện thoai : 0978042682 

 Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 

 Tải câu trả lời tại đây 

 


 

  Câu hỏi :

 

Gia đình tôi có một thửa đất vườn 100m2 tự khai phá năm 1995 không có giấy tờ gì. Đến năm 2005 gia đình tôi đã xây dựng nhà trên thửa đất đó ở ổn định đến nay, không có tranh chấp gì cả, Không bị lập biên bản vi phạm gì cả. Năm 2008 đo đạc địa chính đã quy củ đứng tên tôi mục đích là đất ở nhứng chưa được cấp giấy chứng nhận. Đến nay năm 2017 tôi làm thủ cấp giấy chứng nhân QSDĐ. Xin hỏi trường hợp thửa đất của tôi có được công nhân là đất ở hay là đất vườn. nếu công nhận là đất ở rồi tôi có phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng không. Thủ tục, hồ sơ cấp giấy tôi phải làm như nào? tôi phải nộp tiền sử dụng đất như thế nào? căn cứ vào đâu để tôi nộp tiền sử dụng đất?

Người hỏi : Hoàng Văn hùng - Địa chỉ : Thị trấn Than uyên 

 

 Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 

Tải câu trả lời tại đây

 

 


 

 

  Câu hỏi :

 

Hiện tại cháu đang làm chuyên đề khóa luận về đánh giá tình hình sử dụng đất huyện mường tè- tỉnh lai châu. cô ( chú ) cho cháu xin số liệu về đánh giá tình hình sử dụng đất năm 2014- 2016 và bàng biến động đất đai từ 2014- 2016 được ko ạ, cháu xin cảm ơn

Người hỏi : trần khánh hoàng - Địa chỉ : đồng nai- việt nam - Điện thoai : 01669143027 
Thư điên tử : trankhanhhoangkt19931@gmail.com 

 Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

Tải câu trả lời tại đây

 


 

 

  Câu hỏi :

 Gia đình tôi gồm 5 người có mảnh đất sử dụng ổn định từ năm 1999, diện tích khoảng 950m2  mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Năm 1996 đã xây nhà ở diện tích khoảng  150 m2 , 2014 các anh em đã XD GĐ VÀ đã xây nhà ở cho  3 hộ GĐ (ở riêng)  còn lại , còn lại là đất trồng cây và ở đó cho đến nay. Vậy trường hợp của gia đình tôi có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không, việc tách các hộ để làm sổ đỏ  trong các hộ GĐ PHẢI THỰC HIỆN ntn,ở đâu, thủ tục ra sao ? Thời gian là bao nhiêu ngày?

 Người hỏi : La Văn Ngoãn - Địa chỉ : SAN THÀNG-TP LAI CHÂU

Điện thoại :  - Thư điên tử : ngoan69@gmail.com 

 Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 Theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện. Căn cứ quy định trên, để đảm bảo quyền và lợi ích của gia đình ông, đề nghị ông liên hệ trực tiếp bộ phận "Một cửa" thuộc UBND thành phố Lai Châu để được hướng dẫn thủ tục hoặc ông có thể tra cứu trên trang thông tin điện tử của tỉnh Lai Châu (Quyết định số 1646/QĐ-UBND ngày 28/11/2016 của UBND tỉnh về công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện) để được biết thủ tục, thời gian thực hiện, cơ quan thực hiện.  

 Tải câu trả lời tại đây


 

 Câu hỏi :

Tôi công tác giáo dục năm 2006 đến nay, tôi đã làm hồ sơ cấp đất, vậy tôi có được cấp đất không?

Người hỏi : Đào Hùng Cường - Địa chỉ : tổ 12 phường Tân Phong TP Lai Châu
Điện thoại : 01687585893 - Thư điên tử : cuongthcssanthang@gmail.com 

Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

Do nội dung câu hỏi của ông không rõ ràng (thông tin không đầy đủ), do vậy Sở Tài nguyên và Môi trường không có cơ sở để trả lời cụ thể theo yêu cầu của Ông. Để biết việc có đủ điều kiện được cấp đất theo quy định của UBND tỉnh hay không, Ông có thể nghiên cứu về quy định và đối tượng được cấp đất ở tại các văn bản quy định của UBND tỉnh có cùng thời điểm Ông công tác (năm 2006), cụ thể:

+ Điều 1, Điều 2 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 78/2005/QĐ-UBND ngày 26/9/2005 của UBND tỉnh Lai Châu về việc ban hành Quy định chính sách đất ở đối với cán bộ CCVC, LLVT được điều động đến nhận công tác tại thị xã Lai Châu, huyện Phong Thổ, huyện Tam Đường;

+ Khoản 2, Điều 1 của Quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 24/12/2007 của UBND tỉnh Lai Châu về sửa đổi bổ sung chính sách hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang được điều động, tuyển dụng đến nhận công tác tại thị xã Lai Châu, huyện Phong Thổ và huyện Tam Đường.

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời để ông biết, tham khảo nội dung.


 

  Câu hỏi 

 Tôi xin hỏi:

 Bố mẹ tôi được mua đất, nhà  và đã được cấp GCN quyền sử dụng. Tuy nhiên do số tiền phải nộp quá nhiều nên chưa nhận GCN về. Nay do nhu cầu sinh hoạt và di chúc của bố mẹ tôi, chia đôi căn nhà cho hai anh em. Tôi xin hỏi tôi muốn tách thửa đất và căn nhà trên sau đó nộp một nửa số tiền để được nhận GCN quyền sử dụng cho căn nhà được bố mẹ chia hay không? .(phần còn lại anh tôi sẽ nợ và nộp sau).

 Rất mong nhận được sớm phản hồi của quý Sở

 Người hỏi : Hoang Duc - Địa chỉ : Tân Phong -TP Lai Châu - Điện thoai :  

Thư điên tử : HoangDuc@gmail.com

  Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

Tải câu trả lời tại đây


 

 Câu hỏi 

 Tôi muốn hỏi : có phải theo quy định, những hộ gia đình đang sử dụng ổn định từ trước năm 15/10/1993, không có tranh chấp và phù hợp với các quy định Luật Đất đai thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. Gia đình tôi cũng thuộc diện nêu trên nhưng khi xin cấp giấy chứng nhận, UBND phường không xác nhận hồ sơ mà trả lời bằng văn bản: đất đai còn vướng mắc nên chưa được giải quyết. Hồ sơ đã nộp từ năm 2015 đến nay vẫn chưa giải quyết. Cho tôi hỏi, văn bản của chính quyền địa phương có đúng quy định pháp luật không? Gia đình tôi cần phải làm những thủ tục gì để được cấp giấy chứng nhận, để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, tôi cần phải có loại giấy tờ nào ?

 Người hỏi : LÊ VĂN QUẾ - Địa chỉ : TP LAI CHÂU 

  Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 Tải câu trả lời tại đây


 

 Câu hỏi 

Tôi đi làm thủ tục đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu ở thành phố lai châu thì nhận được hướng dẫn phải trích quy hoạch bên phòng quản lý đô thị thành phố. Theo tôi nghiên cứu trong Quyết định 1839 ngày 27/8/2014 của bộ TNMT thì không thấy có công đoạn này. Vậy tôi hỏi:

- Việc trích quy hoạch bên phòng quản lý đô thị như vậy là đúng hay sai theo quy định nào?

- Làm như vậy có phù hợp với việc rút ngắn bộ thủ tục hành và liên thông 1 cửa theo quy định hay không?

- Việc trích quy hoạch bên phòng quản lý đô thị thì công dân phải tự đi làm hay sau khi nộp hồ sơ theo quy định tại Quyết định 1839 thì các phòng ban tự liên hệ để phối hợp thực hiện công việc này?

- Thời gian xin trích quy hoạch đô thị bên phòng quản lý đô thị là bao lâu và theo quy định nào?

Tôi xin chân thành cám ơn..!!

(trích dẫn QĐ-1839)

2. Thủ tục đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu

(1) Trình tự thực hiện

a) Người sử dụng đất nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nếu có nhu cầu.

Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03 ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.

b) Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin vào Sổ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả và trao Phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả cho người nộp hồ sơ.

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện:

+ Thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có) đối với nơi chưa có bản đồ địa chính.

+ Kiểm tra hồ sơ; xác nhận hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất, sự phù hợp với quy hoạch đối với trường hợp không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất; xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sở hữu tài sản theo quy định; xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt đối với nhà ở, công trình xây dựng; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ.

+ Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

- Trường hợp nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện các công việc như sau:

+ Gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất, sự phù hợp với quy hoạch đối với trường hợp không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất; xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sở hữu tài sản; xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt đối với nhà ở, công trình xây dựng; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ; niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

+ Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ở nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng hiện trạng ranh giới sử dụng đất đã thay đổi hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

+ Kiểm tra, xác nhận sơ đồ tài sản gắn liền với đất đối với tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư mà sơ đồ đó chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;

+ Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận vào đơn đăng ký;

+ Gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đăng ký đối với trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trạng tài sản có thay đổi so với giấy tờ theo quy định.

c) Cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc.

d) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện các công việc như sau:

+ Cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có);

+ Gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính (trừ trường hợp không thuộc đối tượng phải nộp nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật); chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường trình ký cấp Giấy chứng nhận.

đ) Cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện các công việc sau:

- Kiểm tra hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận.

- Chuyển hồ sơ đã giải quyết cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

e) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất:

+ Cập nhật bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai;

+ Trao Giấy chứng nhận cho người được cấp đã nộp chứng từ hoàn thành nghĩa vụ tài chính (hoặc đã ký hợp đồng thuê đất hoặc được miễn nghĩa vụ tài chính liên quan đến thủ tục hành chính) hoặc gửi Giấy chứng nhận cho Ủy ban nhân dân cấp xã để trao cho người được cấp đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại cấp xã.

  g) Người được cấp Giấy chứng nhận nộp lại bản chính giấy tờ theo quy định trước khi nhận Giấy chứng nhận.

(2) Cách thức thực hiện

Người sử dụng đất nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nếu có nhu cầu.

(3) Thành phần, số lượng hồ sơ

* Thành phần hồ sơ bao gồm:

1. Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK;

  1.  Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (bản sao một trong các giấy tờ đã có công chứng hoặc chứng thực hoặc bản sao giấy tờ và xuất trình bản chính để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra đối chiếu và xác nhận vào bản sao hoặc bản chính):

a) Giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Một trong các giấy tờ lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 có tên người sử dụng đất, bao gồm:

- Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.

-  Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, có tên người sử dụng đất bao gồm:

+ Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp; 

+ Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

+ Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có biên bản xét duyệt và Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp.

- Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

- Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

- Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

- Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn ngân sách nhà nước thì phải bàn giao quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa phương để quản lý, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

h) Bản sao các giấy tờ lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 có tên người sử dụng đất nêu tại điểm g có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.

i) Một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất nêu tại các điểm a, b, c, d , đ, e, g và h trên đây mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan.

k) Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

l) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2014.

m) Giấy xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng đối với trường hợp cộng đồng dân cư đang sử dụng đất.

3. Một trong các giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp tài sản là nhà ở (bản sao giấy tờ đã có công chứng hoặc chứng thực hoặc bản sao giấy tờ và xuất trình bản chính để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra đối chiếu và xác nhận vào bản sao hoặc bản chính):

a) Hộ gia đình, cá nhân trong nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:                    

- Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng. Trường hợp nhà ở đã xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép không ảnh hưởng đến an toàn công trình và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

- Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;

- Giấy tờ về giao hoặc tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;

- Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991;

- Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định của pháp luật về nhà ở. Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết;

- Bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;

- Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ quy định mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 có chữ ký của các bên có liên quan và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đó. Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ theo quy định mà hiện trạng nhà ở không phù hợp với giấy tờ đó thì phần nhà ở không phù hợp với giấy tờ phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006;

- Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhà ở hoàn thành xây dựng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 trở về sau thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006; trường hợp nhà ở thuộc đối tượng phải xin phép xây dựng mà không xin phép thì phải có giấy tờ của cơ quan quản lý về xây dựng cấp huyện chấp thuận cho tồn tại nhà ở đó.

b) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam phải có các giấy tờ sau:

- Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật về nhà ở;

- Một trong các giấy tờ của bên chuyển quyền.

4. Một trong các giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng đối với trường hợp tài sản là công trình xây dựng (bản sao giấy tờ đã có chứng nhận hoặc chứng hoặc bản sao giấy tờ và xuất trình bản chính để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra đối chiếu và xác nhận vào bản sao hoặc bản chính):

- Giấy phép xây dựng công trình đối với trường hợp phải xin phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng. Trường hợp công trình đã xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép không ảnh hưởng đến an toàn công trình và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

- Giấy tờ về sở hữu công trình xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ, trừ trường hợp Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng;

- Giấy tờ mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế công trình xây dựng theo quy định của pháp luật đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định;

- Giấy tờ của Toà án nhân dân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu công trình xây dựng đã có hiệu lực pháp luật;

- Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế công trình xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 có chữ ký của các bên có liên quan và được Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên xác nhận; trường hợp mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế công trình xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế công trình xây dựng đó.

Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu công trình có một trong những giấy tờ về quyền sở hữu công trình mà hiện trạng công trình không phù hợp với giấy tờ đó hoặc thì phần công trình không phù hợp với giấy tờ phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận công trình đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và công trình được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng.

- Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ về quyền sở hữu công trình thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận công trình đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và công trình được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng.

Trường hợp công trình hoàn thành xây dựng từ ngày 01/7/2004 thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về công trình xây dựng không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp xây dựng trước ngày 01/7/2004; trường hợp công trình thuộc đối tượng phải xin phép xây dựng mà không xin phép thì phải có giấy tờ của cơ quan quản lý về xây dựng cấp huyện chấp thuận cho tồn tại công trình đó.

5. Một trong các giấy tờ về quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng đối với trường hợp chứng nhận tài sản rừng sản xuất là rừng trồng (bản sao giấy tờ đã có công chứng hoặc chứng thực hoặc bản sao giấy tờ và xuất trình bản chính để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra đối chiếu và xác nhận vào bản sao hoặc bản chính):

- Giấy chứng nhận hoặc một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hưu tài sản gắn liền với đất nêu tại Khoản 2 trên đây mà trong đó xác định Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để trồng rừng sản xuất;

- Giấy tờ về giao rừng sản xuất là rừng trồng;

- Hợp đồng hoặc văn bản về việc mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế đối với rừng sản xuất là rừng trồng đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật;

- Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng đã có hiệu lực pháp luật;

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư không có giấy tờ về quyền sở hữu rừng mà đã trồng rừng sản xuất bằng vốn của mình thì phải được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận có đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai;

6. Một trong các giấy tờ về quyền sở hữu cây lâu năm đối với trường hợp chứng nhận quyền sở hữu cây lâu năm (bản sao giấy tờ đã có công chứng hoặc chứng thực hoặc bản sao giấy tờ và xuất trình bản chính để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra đối chiếu và xác nhận vào bản sao hoặc bản chính):

- Giấy chứng nhận hoặc một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất nêu tại Khoản 2 trên đây mà trong đó xác định Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để trồng cây lâu năm phù hợp với mục đích sử dụng đất ghi trên giấy tờ đó;

- Hợp đồng hoặc văn bản về việc mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế đối với cây lâu năm đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định;

- Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu cây lâu năm đã có hiệu lực pháp luật;

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư không có giấy tờ về quyền sở hữu cây lâu năm nêu trên đây thì phải được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận có đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai;

  1.  Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất - nếu có (bản sao đã có công chứng hoặc chứng thực hoặc bản sao và xuất trình bản chính để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra đối chiếu và xác nhận vào bản sao hoặc bản chính đối với trường hợp có 2 bản chính).

8. Trường hợp có đăng ký quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề phải có hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân về việc xác lập quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề, kèm theo sơ đồ thể hiện vị trí, kích thước phần diện tích thửa đất mà người sử dụng thửa đất liền kề được quyền sử dụng hạn chế.

b) Số lượng hồ sơ: 1 bộ

(4) Thời hạn giải quyết

Do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không bao gồm thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, thời gian xem xét xử lý đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật, thời gian trưng cầu giám định.

Đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì thời gian thực hiện được tăng thêm 15 ngày.

Kết quả giải quyết thủ tục hành chính phải trả cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả giải quyết.

(5) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính

Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

(6) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Ủy ban nhân dân cấp huyện

- Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Không.

- Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

- Cơ quan phối hợp (nếu có): Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng, nông nghiệp, cơ quan thuế, Phòng Tài nguyên và Môi trường.

(7) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính

- Ghi vào sổ địa chính và lập hồ sơ để Nhà nước quản lý. 

- Giấy chứng nhận. 

 (8) Lệ phí (nếu có)

 Lệ phí địa chính (mức thu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định); Hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn không phải nộp Lệ phí địa chính.

(9) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai

- Mẫu số 04a/ĐK: Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Mẫu số 04b/ĐK: Danh sách người sử dụng chung thửa đất, chủ sở hữu chung tài sản gắn liền với đất.

- Mẫu số 04c/ĐK: Danh sách các thửa đất nông nghiệp của cùng một người sử dụng, người được giao quản lý đất.

- Mẫu số 04d/ĐK: Danh sách tài sản gắn liền với đất trên cùng một thửa đất.

(Mẫu đơn được ban hành kèm theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT và công khai trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai)

(10) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có)

Đối với trường hợp chứng nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì vốn để trồng rừng, tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng rừng hoặc tiền nộp cho Nhà nước khi được giao rừng có thu tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

(11) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính

- Luật số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013; có hiệu lực từ ngày 01/7/2014.

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; có hiệu lực từ ngày 01/7/2014.

- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; có hiệu lực từ ngày 05/7/2014.

- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; có hiệu lực từ ngày 05/7/2014.

 - Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài chính; có hiệu lực từ ngày 17/02/2014.

Người hỏi : Nguyễn Tuấn Anh - Địa chỉ : Phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu - Điện thọai : 09858768511 
Thư điên tử : tuananhpro@gmail.com

Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

Tải câu trả lời tại đây


 

Câu hỏi 

Xin chào quý Sở Tài nguyên và Môi trường. Tôi có một việc muốn xin nhờ bên sở giúp đỡ. Hiện nay tôi đang làm địa chính xã, nhiều lần đi giải quyết công việc liên quan đến giải phóng mặt bằng tôi gặp nhiều trường hợp, nhiều hộ dân hỏi tôi về bảng giá đất và các loại hoa màu mà tôi thì chưa nắm được vấn đề đó nên nhiều lúc gặp nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết công việc. Vậy tôi kính mong quý Sở Tài nguyên và Môi trường tư vấn giúp.

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người hỏi : Tẩn A Sun - Địa chỉ : Xã Hồng Thu - Sìn Hồ - Lai Châu - Điện thoai : 01644.906.779 
Thư điên tử : tankimsun91@gmail.com

Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 Sau khi xem xét, Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

           1. Theo Khoản 2, Điều 114 Luật đất đai năm 2013 thì Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây:

             a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân;

           b) Tính thuế sử dụng đất;

           c) Tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai;

           d) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

           đ) Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai;

           e) Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

 Hiện nay tỉnh Lai Châu đang áp dụng bảng giá đất theo Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh; Quyết định số 21/2016/QĐ-UBND ngày 22/7/2016 của UBND tỉnh Lai Châu về việc bổ sung giá đất trong bảng giá đất của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu.

 Đối với cây hoa mầu (là những cây trồng ngắn ngày trừ cây lương thực) thì áp dụng theo Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 16/12/2014 của UBND tỉnh Lai Châu về việc ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi và các tài sản khác gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu.

 2. Đề nghị ông Tẩn A Sun liên hệ với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Sìn Hồ để được cung cấp các văn bản quy định về Bảng giá đất, tài sản hoa mầu và được hướng dẫn cụ thể.


 

   Câu hỏi :

Tôi trình bày với Quý Sở sự việc như sau:
- Thứ nhất: Vào tháng 10 năm 1995, tôi có mua mảnh đất của ông chú ruột tôi (mảnh đất liền kề) với gia đình tôi với diện tích là 624m². Lúc mua có thể hiện giấy mua bàn viết tay (có thành phần tham gia chứng kiến). Ông chú tôi giao đất và giao toàn bộ giấy tờ của ông chú tôi mua của hợp tác xã và UBND xã (gồm phiếu thu tiền mua đất năm 1991 đất thổ cư đất ở và quyết định giao đất của UBND xã (chủ tịch xã đã ký năm 1992). Vào năm 2009, nhà nước có quy hoạch vào khu đất nhà tôi để làm đường giao thông liên tỉnh (với diện tích là 223m²). UBND huyện đã giải tỏa diện tích trên và đã trả cho gia đình tôi 223m² ra khu vực khu tái định cư do huyện đã quy định và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Số diện tích đất gia đình tôi đã mất là 223m².
Vào năm 2014, tôi có đề nghị UBND xã làm thủ tục xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tiên cho gia đình tôi. UBND xã đã thành lập hội đồng xét duyệt là 200m² đất ở, 201m² đất vườn và trình UBND huyện và Phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình tôi (mọi thủ tục ở xã đã xong và chuyển xuống cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất ở huyện). Sau đó cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất đã thẩm định về giấy tờ và đã trả lời gia đình tôi. Số đất còn lại của thửa đất nay chỉ được cấp giấy chứng nhận là thửa đất vườn thôi không được cấp giấy đất thổ cư vì số đất đã thu hồi UBND huyện đã trả ra khu tái định cư là 223m² đất ở.
Nhưng gia đình tôi không đồng ý số còn lại cấp đất vườn.
Theo tôi, Luật đất đai áp dụng:
1) Vào khoản 1 điều 100 luật đất đai năm 2013 và nhiều điều Luật đất đai của nước Việt Nam
2) Là thửa đất cấp đất ở là thửa đất khác không phải là thửa đất tôi đề nghị cấp hiện nay.
3) Và thửa đất này đã xây dựng nhà và công trình phụ (khi nhà nước đã thu hồi mất nhà mất đất )
4) Tiền thuế nhà đất gia đình tôi đã nộp đầy đủ hằng năm từ trước đến nay….
5) Để hợp thức là đất ở là 200m² đất thổ cư và 201m² đất vườn theo quy định của hạn mức luật đất đai
- Thứ hai: vào năm 2001, tôi có mua mảnh đất 266,8m² liền kề đất thổ cư gia đình tôi. Lúc đó, việc mua bán thể hiện bằng giấy viết tay với nhau (có giấy chứng nhận của UBND xã) mua bán xong. Người có đất bán trao trả cho tôi toàn bộ giấy tờ gồm: biên bản thanh lý tài sản của hợp tác xã đất thổ cư năm 1991 (đủ các ban ngành đã ký) và hóa đơn nộp tiền (thể hiện nộp tiền mua bán đất ao tại vị trí đó là ao năm 1991), đủ kế toán, thủ quỹ, thủ trưởng đã ký và Quyết định giao đất của UBND xã, Chủ tịch đã ký năm 1992. Vào năm 2009 nhà nước đã lấy 120m² diện tích đất của gia đình tôi để làm đường giao thông liên tỉnh. Vào năm 2014, tôi đề nghị UBND xã làm thủ tục xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình tôi. UBND xã đã thành lập hội đồng xét duyệt, là đất thổ cư và đã trình UBND huyện và Phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện cấp giấy cho gia đình tôi. Phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã thẩm định và đã trả lời gia đình tôi là chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ao và giải thích cho gia đình tôi phiếu thu tiền ghi là mua đất ao, gia đình tôi không đồng ý bởi những lý do như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và áp dụng các điều lệ Luật đất đai nước CHXHCN Việt Nam;
2. Bản bán thanh lý đất ở (vị trí đó là ao - năm 1991) để lấy tiền xây dựng hạ tầng đường điện, nông thôn năm 1991;
3. Quyết định giao đất của UBND xã năm 1992;
4. Tiền thuế nhà đất gia đình tôi đã nộp đầy đủ hằng năm từ trước đến nay….
Gia đình tôi đã thực hiện giải toả mặt bằng sớm và tốt nhất .

Xin cám ơn !

Người hỏi : LÒ VĂN HƠN - Địa chỉ : TT TÂN UYÊN

Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:
 Câu hỏi (14/10/2016):

 1. Doanh nghiệp tôi hoạt động công nghiệp từ năm 2014, đã thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và các nội dung liên quan trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Tuy nhiên, đầu năm 2016, để phục vụ chỗ ăn ở cho công nhân, doanh nghiệp đã xây thêm một khu tổ hợp nhà ăn, phòng ngủ 1200m2 (phục vụ 300 công nhân).

Xin hỏi, với những hạng mục xây dựng trên doanh nghiệp có phải làm lại ĐTM hay không?

2.  Cơ sở của tôi chuyên sản xuất, kinh doanh hóa chất độc. Tôi ý thức được đây là hoạt động có tính nguy hiểm cao với chính mình và người dân xung quanh. Vì vậy, tôi rất muốn tìm hiểu về các quy định pháp luật liên quan đến việc tổ chức ứng phó sự cố hóa chất độc, cũng như muốn biết về trách nhiệm của mình đối với sự cố trên.

Xin cho tôi biết về những quy định trên ?

Người hỏi : MG. HẢI NGÂN - Địa chỉ : TT. TÂN UYÊN
Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời :

 1. Doanh nghiệp tôi hoạt động công nghiệp từ năm 2014, đã thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và các nội dung liên quan trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Tuy nhiên, đầu năm 2016, để phục vụ chỗ ăn ở cho công nhân, doanh nghiệp đã xây thêm một khu tổ hợp nhà ăn, phòng ngủ 1200 m2 (phục vụ 300 công nhân).

  Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

 Theo Quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 15 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường:

 Dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng trong quá trình triển khai thực hiện có thay đổi về quy mô, công suất, công nghệ hoặc những thay đổi khác dẫn đến các công trình bảo vệ môi trường không có khả năng giải quyết được các vấn đề môi trường gia tăng.

 Như vậy, trường hợp của Doanh nghiệp thuộc loại “thay đổi khác” tại nội dung của Điểm c, Khoản 1, Điều 15 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP. Để xác định “thay đổi khác” của dự án có “dẫn đến các công trình bảo vệ môi trường không có khả năng giải quyết được các vấn đề môi trường gia tăng” thì lại cần phải xem lại cụ thể hồ sơ báo cáo ĐTM của dự án đã được phê duyệt, trong hồ sơ dự án có các công trình bảo vệ môi trường tính đến sự thay đổi này chưa? Quy mô, công suất xử lý của các công trình bảo vệ môi trường có đảm bảo cho việc xử lý các hạng mục xây dựng mới đầu tư này hay không? Có 2 trường hợp như sau:

 - Trong trường hợp việc bổ sung các hạng mục này, đã được tính toán trước đó, công suất xử lý của các công trình bảo vệ môi trường của dự án đã được xây dựng trước đó đảm bảo thì chủ dự án không phải lập lại báo cáo ĐTM, tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 7, Điều 16 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP về trách nhiệm của chủ dự án sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt “Báo cáo bằng văn bản và chỉ được thực hiện những thay đổi liên quan đến phạm vi, quy mô, công suất, công nghệ sản xuất, các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường của dự án sau khi có ý kiến chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường”. Nghĩa là chủ dự án không phải lập lại báo cáo ĐTM nhưng phải có báo cáo bằng văn bản gửi UBND tỉnh và khi có ý kiến chấp thuận của UBND tỉnh thì chủ dự án mới được thực hiện những thay đổi.

 - Trong trường hợp việc bổ sung các hạng mục này, chưa được tính toán trước đó, công suất xử lý của các công trình bảo vệ môi trường của dự án đã được xây dựng trước đó không đảm bảo thì chủ dự án phải lập lại báo cáo ĐTM trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt.

 2. Cơ sở của tôi chuyên sản xuất, kinh doanh hóa chất độc. Tôi ý thức được đây là hoạt động có tính nguy hiểm cao với chính mình và người dân xung quanh. Vì vậy, tôi rất muốn tìm hiểu về các quy định pháp luật liên quan đến việc tổ chức ứng phó sự cố hóa chất độc, cũng như muốn biết về trách nhiệm của mình đối với sự cố trên.

 Sở Tài nguyên và môi trường có ý kiến như sau:

 Về lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hóa chất: Do câu hỏi không nói rõ loại hóa chất nên Sở Tài nguyên và Môi trường chưa có cơ sở để trả lời cụ thể, Chủ cơ sở có thể tham khảo tại Mục 84 đến 90 của Phụ lục II, Nghị định số 18/2015/NĐ-CP để xác định rõ cơ sở mình có quy mô lập báo cáo ĐTM hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường (nếu đã hoạt động từ trước ngày 01/4/2015 mà chưa có thủ tục pháp lý về môi trường thì phải lập Đề án bảo vệ môi trường chi tiết hoặc Đề án bảo vệ môi trường đơn giản).

 Về việc tổ chức ứng phó sự cố hóa chất độc, theo quy định thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành Công thương; theo đó ngành Công thương có trách nhiệm thẩm định và phê duyệt Kế hoạch Phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất. Chủ cơ sở có thể liên hệ trực tiếp với Sở Công thương để có giải đáp cụ thể hơn hoặc tự nghiên cứu quy định cụ thể tại Quyết định số 26/2016/QĐ-TTg ngày 01/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc và Thông tư số 20/2013/TT-BCT ngày 05/8/2013 của Bộ Công thương Quy định về Kế hoạch và Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp.

 Tải câu trả lời tại đây


 

 

 Câu hỏi (08/9/2016):

 Hiện nay tôi đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng phục vụ thi công dự án tại tp Lai Châu, tôi đang muốn tìm hiểu xem Tỉnh có quy định hay nghị đinh nào về việc" Quy định về định mức trích lập, sử dụng, quyết toán kinh phí và mức chi đặc thù cho việc tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng và bồi thường tái định cư khi nhà nước thu hồi đất"

 Người hỏi : Ng Hai Lam - Địa chỉ : tp Lai Châu

Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời : 
 

 

Câu hỏi (19/8/2016):

Hiện tại gia đình tôi có mua 01 mảnh đất và đã xây dựng nhà nhưng chưa có sổ đỏ, chỉ có giấy biên nhận bán đất viết tay của chủ đất và gia đình tôi, nhưng hiện nay khu đất vào diện quy hoạch giải tỏa, vậy gia đình tôi có được đền bù không và mức đền bù như thế nào?

Người hỏi : Bà Lê Thị Loan, phường Đông Phong, thành Phố Lai Châu


Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

Do nội dung câu hỏi của Bà chưa nêu rõ về nguồn gốc thửa đất do gia đình Bà nhận chuyển nhượng được hình thành như thế nào, trước khi gia đình Bà nhận chuyển nhượng là đất nông nghiệp hay đất ở, hay loại đất khác; đồng thời, chưa rõ thửa đất tại vị trí nào trên địa bàn phường Đông Phong; do vậy, Sở Tài nguyên và Môi trường không có cơ sở để trả lời cụ thể là đất của gia đình Bà có được bồi thường, hay không được bồi thường và mức bồi thường cụ thể là bao nhiêu theo yêu cầu của Bà, vì điều kiện để đất được bồi thường phải căn cứ vào nhiều yếu tố như: đất có bị tranh chấp, lấn, chiếm hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hay không…

Đề nghị Bà cung cấp đầy đủ thông tin về thửa đất do gia đình đã mua và đang sử dụng, cụ thể như: Vị trí nào trên địa bàn phường Đông Phong, tình trạng đất đai có bị tranh chấp, lấn, chiếm không; thời điểm mua, thời điểm xây dựng nhà, công trình trên đất…, để Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời cho gia đình Bà được cụ thể, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, Sở Tài nguyên và Môi trường đưa ra một số trường hợp sau để gia đình Bà tham khảo, áp dụng vào trường hợp cụ thể của gia đình

 - Giả sử gia đình Bà đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai, có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai “a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 143 và Khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;”

Căn cứ nguồn gốc sử dụng đất được công nhận diện tích đất ở khi cấp Giấy CNQSD đất theo quy định trên, khi Nhà nước thu hồi đất sẽ được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

“1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101 và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì được bồi thường về đất.

2. Trường hợp người có đất thu hồi được bồi thường bằng tiền thì số tiền bồi thường phải trừ khoản tiền nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.”./.


 

 
Câu hỏi (28/08/2016):

Xin chào quý sở tnmt tỉnh lai châu! tôi có một vấn đề muốn được sở tnmt tỉnh giải đáp giúp. hiện tại tôi có một mảnh đất diện tích 250 mét vuông (10*25m) đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ,vùa rồi tôi có mua thêm một căn nhà cấp 4 liền kề với diện tích 72 mét vuông (4*18m) chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .mà theo cán bộ địa chính xã cho tôi biết là mảnh đất tôi mua thêm không đủ dien tích để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .vậy cho tôi hỏi sở tnmt bây giờ tôi hợp thửa với mảnh đất của tôi không ? và có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho căn nhà cấp 4 tôi đã mua hay không,nếu có cần nhưng thủ tục gì? mảnh đất của tôi vả căn nhà cấp 4 mới mua thêm nằm trên mặt đường quốc lộ 32c tại xã thân thuộc huyện tân uyên tỉnh lai châu.xin cám ơn.

Người hỏi : Hoàng Đình Nghệ - Địa chỉ : thị trấn tân uyên huyện tân uyên tỉnh lai châu
Điện thoại : 0981400678 
 
Sở Tài Nguyên và Môi Trường trả lời:

 - Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua, bán thửa đất).

 Theo nội dung câu hỏi của ông thì ông mới mua một căn nhà cấp 4 liền kề với diện tích 72 m2 (4*18m) chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; do vậy, việc mua bán này không phù hợp với quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, vì thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên không đủ điều kiện để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua, bán thửa đất).

 - Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 Theo nội dung câu hỏi của ông chưa rõ về nguồn gốc của thửa đất đó được hình thành như thế nào, do nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng trước đó hay do gia đình, cá nhân trước đó lấn, chiếm của nhà nước hoặc lấn, chiếm của gia đình, cá nhân khác... hay thửa đất đó được chia tách ra từ một thửa đất khác; do vậy, không có cơ sở trả lời ông là diện tích đất đó có được cấp hay không được cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, Sở Tài nguyên và Môi trường đưa ra một số căn cứ pháp luật để ông có thể đối chiếu với thực tế trường hợp của gia đình ông.

 - Theo Điều 29 Nghị định số 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu, như sau:

 + Khoản 1: “ Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày văn bản của UBND cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

 + Khoản 2: “ Không được công chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh”.

 - Theo Điểm b Khoản 1 Điều 7 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh Lai Châu về việc ban hành quy định hạn mức giao đất, hạn mức công nhận đất ở; kích thước, diện tích đất tối thiểu được tách thửa…; thì đất ở tại nông thôn được phép tách thửa phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 120 m2./.


 

 

 

 

 

Tin liên quan

Hỏi đáp(01/09/2016 8:54:34 SA)

DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG HỢP VI PHẠM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU(21/09/2016 9:06:41 SA)

Chiến dịch Giờ Trái đất 2016: "Hành động nhỏ, ý nghĩa lớn"(14/03/2016 8:03:02 SA)

daihoi12.dangcongsan.vn/(15/09/2015 11:13:37 SA)

BẢN TIN TNMT(17/06/2015 3:25:43 CH)

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LAI CHÂU

Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Văn Lương, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường

Trụ sở cơ quan: Tầng 3, Nhà F, Trung tâm Hành chính - Chính trị tỉnh Lai Châu

Điện thoại: 02133.791.905 - Email: vpstnmt@gmail.com

Ghi rõ nguồn http://sotnmt.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này.


...