Trang chủ Tin tức sự kiện

"Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2017
(Ngày đăng :29/03/2017 10:23:05 SA)

 

 

 

 

Kế hoạch Số 34-KH/ĐUK thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2017

 Kế hoạch Số 28-KH/ĐU thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2017

 

 

 

Tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII

Thực hiện chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 9 đến ngày 14/10/2016, tại Hà Nội, BCH TW khóa XII đã họp Hội nghị lần thứ 4 để thảo luận, thông qua Nghị quyết Hội nghị gồm 3 nghị quyết1 Kết luận và một số nội dung quan trọng:

 (1) Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 20/10/2016 về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

(2) Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.

(3) Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 về “Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.

Kết luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2016; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2017.

Về các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ Hội nghị Trung ương lần thứ Ba đến Hội nghị Trung ương lần thứ tư và một số chủ trương, vấn đề quan trọng khác.

NGHỊ QUYẾT 04-NQ/TW NGÀY 30/10/2016: TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHÍNH ĐỐN ĐẢNG; NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ.

1/ Nghị quyết 04-NQ/TW khóa XII là Nghị quyết đặc biệt quan trọng và việc ban hành là rất cần thiết.

Khẳng định điều này vì:

- Đảng ta trong 86 năm lãnh đạo dân tộc giữ nước và dựng nước luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng và xác định đó là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta. Thực tiễn cho thấy, sau mỗi kì Đại hội Đảng toàn quốc, BCH TW đều ban hành các NQ, kết luận về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chính trị xảy ra ở nhiều nơi; tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, căng thẳng; các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi thâm độc; vẫn còn có hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lí; tình trạng tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi.

- NQTW 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” đã tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị. Quá trình phê và tự phê đã góp phần siết lại kỉ luật, đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và từng bước ngăn chặn đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực; tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; thúc đẩy đất nước vượt qua khó khăn, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân. Tuy vậy, thực hiện NQTW 4 khóa XI trong một số việc còn chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.

2/ Nhận diện các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được Nghị quyết TW4 khóa XII chỉ rõ:

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có thể hiểu là quá trình diễn ra sự thay đổi từng bước, từ lượng đến chất về tư tưởng và hành động của cá nhân cán bộ, đảng viên hoặc của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị. Sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

2.1. Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị (9 biểu hiện)

(1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

(2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 

(3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

(4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. 

(5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. 

(6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu. 

(7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. 

(8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. 

(9) Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích. 

2.2. Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống (9 biểu hiện)

(1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. 

(2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. 

(3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực. 

(4) Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu". 

(5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân. 

(6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động. 

(7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. 

(8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. 

(9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội. 

2.3. Biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ (9 biểu hiện)

(1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng". 

(2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự" . Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. 

(3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. 

(4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. 

(5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hoá" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. 

(6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. 

(7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước. 

(8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. 

(9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

III - CÁC NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP 

Với mục tiêu và quan điểm rõ ràng, BCH TW đã đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp:

1. Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình (10 nhiệm vụ giải pháp)

1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương.

Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị. 

2) Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng.

Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả. 

3) Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân.

Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. 

4) Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp ủy các cấp. 

5) Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất . 

6) Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. P hát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền. 

7) Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc . 

8) Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái.

Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

9) Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân.

Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. 

10) Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

2. Về cơ chế, chính sách (6 nhóm nhiệm vụ giải pháp)

1) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.

Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu.

Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. 

2) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế "xin - cho", "duyệt - cấp"; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, "lợi ích nhóm", "sân sau", trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế...

Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền , chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt . 

3) Kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương.

Thực hiện chế độ hợp đồng có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước. 

4) Đẩy mạnh xã hội hóa , tách cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức.

Rà soát, thoái vốn, cổ phần hóa, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất kinh doanh thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. 

5) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, "liên hoan", "gặp mặt" không lành mạnh, với động cơ không trong sáng; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, như: phân công, phân cấp, thẩm quyền quản lý, quy trình bổ nhiệm,... nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tổng thể, liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị và chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

6) Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược.

Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương trong đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

3. Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng (8 nhiệm vụ giải pháp)

1) Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng. Xử lý nghiêm tập thể, cá nhân ban hành văn bản không đúng, không phù hợp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung nghị quyết, kết luận của Đảng; khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân thực hiện có hiệu quả. 

2) Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp ủy các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận. 

3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của ủy ban kiểm tra các cấp trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên.

Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước. 

4) Tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;

Đồng thời, xem xét tư cách đảng viên và phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn. 

5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật;

Trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai kết quả xử lý. 

6) Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng.

Cấp ủy các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên; đồng thời, tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa ngay những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. 

7) Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên.

Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định. 

8) Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nghiêm trọng.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng phải chịu trách nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

4. Về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội (5 nhiệm vụ giải pháp)

1) Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền . 

2) Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên.

Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân. 

3) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. 

4) Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên.

Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp. 

5) Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

 NGHỊ QUYẾT 05-NQ/TW NGÀY 1/11/2016: MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN NHẰM TIẾP TỤC ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG, NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ.

 I/ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, tăng trưởng kinh tế nói riêng nhưng đồng thời vẫn còn nhiều hạn chế. Đánh giá tình hình chủ trương đổi mới, Nghị quyết đã chỉ ra 7 kết quả đạt được, 6 hạn chế:

1/ Kết quả đạt được:

(1) Mô tình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng đã bước đầu có sự chuyển biến sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu.

(2) Cơ cấu lại nền kinh tế, nhất là một số lĩnh vực trọng tâm, bước đầu góp phần cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

(3) Ba đột phá chiến lược đã được tập trung triển khai thực hiện và mang lại kết quả tích cực, tạo điều kiện để tiến hành đổi mới mô tình tăng trưởng.

(4) Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được một số thành quả.

(5) Cơ cấu kinh tế vùng được quan tâm, có sự chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, địa phương.

(6) Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực, chất lượng nguồn nhân lực bước đầu được cải thiện và đội ngũ doanh nhân đã có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội.

(7) Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, góp phần thúc đẩy quá trình tham gia vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế.

2/ Hạn chế:

(1) Nền kinh tế chủ yếu vẫn phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ, lao động có kĩ năng.

(2) Nợ xấu đang giảm dần nhưng vẫn ở mức cao, nợ công tăng nhanh, nợ chính phủ đã vượt trần, tình trạng đầu tư công dàn trải, thất thoát, lãng phí chậm được khắc phục. Nền tảng kinh tế vĩ mô chưa vững chắc và thuận lợi để đổi mới mô tình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, năng suất lao động và sức cạnh tranh.

(3) Việc xây dựng va thực hiện đề án cơ cấu lại tỏng thể nền kinh tế thiếu đồng bộ, chưa gắn chặt “tổng thể” với trọng tâm, chưa thật sự gắng với đổi mới mô tình tăng trưởng, kết quả còn hạn chế. Đóng góp của 3 trọng tâm cơ cấu lại chưa thực sự gắng với đổi mới mô hình tăng trưởng và chưa có tác động rõ nét đến nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

(4) Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chưa gắn với phát triển kinh tế tri thức.

(5) Sự phát triển giữa các địa phương trong vùng, giữa các vùng còn thiếu liên kết và phối hợp; kinh tế của các địa phương trong vùng, giữa các vùng với nhau bị chia cắt, phân tán, bị giới hạn bởi địa giới hành chính, làm giảm, thậm chí triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của từng địa phương và của toàn vùng. Các vùng kinh tế trọng điểm chưa trở thành trung tâm kết nối và xung lực cho phát triển kinh tế vùng.

(6) Chất lượng nguồn nhân lực thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động chưa tương ứng với chuyển dịch cơ cấu sản xuất.

 II/ MỘT SỐ CHỦ CHƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN

Với quan điểm: không thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, gìn giữ môi trường sinh thái; tăng trưởng ngày càng chú trọng vào tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế vơi trọng tâm ưu tiên là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới; Nghị quyết đã đưa ra 5 mục tiêu trong giai đoạn 2016 – 2020 và đưa ra 4 chủ trương, chính sách lớn:

(1) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô.

(2) Tiếp tục thực hiện 3 đột phá chiến lược:

- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại.

- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.

(3) Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế,

(4) Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các nghành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm.

 NGHỊ QUYẾT 06-NQ/TW NGÀY 5/11/2016: THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TÉ, GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH NƯỚC TA THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI.

 1/ Kết quả triển khai đường lối của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế:

Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nhưng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức lớn hơn.

1.1/ Về thành tựu:

* Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; thúc đẩy hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác; tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế từ TW đến địa phương được nâng lên một bước; tổ chức, bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bước trưởng thành đáng kể.

* Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần giữ gìn môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế;

- Góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đổi ới mô tình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, sức mạnh tổng hợp quốc gia.

- Góp phẩn đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.

- Góp phần tích cực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường.

1.2/ Về hạn chế:

- Chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện nghiêm túc.

- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa được thực hiện đồng bộ.

- Hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với hội nhập trong các lĩnh vực khác. Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng. Việc ứng phó với những biến động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.

Các biểu hiện cụ thể:

(1) Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế còn chậm, thiếu kiên quyết và chưa phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

(2) Chưa có sự đồng bộ giữa hội nhập kinh tế quốc tế với bên ngoài và đổi mới ở bên trong; hiệu quả thực thi pháp luật còn thấp.

(3) Thiếu các giải pháp hiệu quả để hạn chế tác động không thuận của hội nhập, nhất là trong lĩnh vực lao động, văn hóa, xã hội, môi trường.

(4) Chủ trương kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh chưa được triển khai đồng bộ; chưa lường trước và ngăn chặn được hiệu quả tác động từ bên ngoài sau khi gia nhập WTO.

Các hạn chế, yếu kém dẫn tới nhiều hệ quả phát triển kinh tế - xã hội:

(1) Tăng trưởng kinh tế sau khi gia nhập WTO về cơ bản chưa đạt được mục tiêu “kinh tế phát triển nhanh và bền vững”.

(2) Chưa tranh thủ hiệu quả cơ hội, tác động tích cực của hội nhập quốc tế để nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(3) Các thành quả của hội nhập kinh tế quốc tế chưa được lan tỏa đồng đều.

(4) Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh từ hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường ngày càng phức tạp, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

2/ Cơ hội và thách thức đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong 5 – 10 năm tới.

Thế giới trong 5-10 năm tới dự báo tiếp tục có những chuyển biến quan trọng, trong đó nổi lên có những đặc điểm lớn sau:

(1) Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ.

(2) Kinh tế thế giới tiếp tục chiều hướng phục hồi, song tốc độ tăng trưởng dự báo chậm hơn giai đoạn trước.

(3) Hòa bình, hợp tác, liên kết để phát triển tiếp tục là xu thế lớn, những xung đột, bất ổn chính trị, xã hội tiếp tục diễn ra ở nhiều nước, khu vực; các vấn đề sắc tộc, tôn giáo, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khi hậu, an ninh tài chính, an ninh mạng, khủng bố, di cư bất hợp pháp,... chiều hướng gia tăng cùng nhiều biểu hiện mới của xu hướng dân xúy, li tâm, co cụm, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

(4) Quá trình thế giới chuyển sang cục diện đa cực dự kiến sẽ còn nhiều phức tạp khó lường.

(5) Khu vực châu Á – Thái Bình Dương ngày càng khẳng định vị trí và vai trò trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, đầu tầu thúc đẩy toàn cầu hóa, khu vực hóa của thế giới.

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong thời gian tới có 2 thách thức rất lớn:

(1) Lòng tin chính trị giữa các nước bị thách thức nghiêm trọng bởi tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo và sự cạnh tranh giữa các nước lớn.

(2) Căng thẳng thường xuyên và nguy cơ xung đột cục bộ có thể gia tăng do chủ nghĩa dân tộc, bá quyền nước lớn, trong khi những cơ chế hợp tác chính trị - an ninh và các biện pháp ngoại giao phòng ngừa chưa đủ mạnh. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục cam kết xây dựng Cộng đồng, duy trì vai trò trung tâm của Hiệp hội trong cơ chế hợp tác ở khu vực. Song khả năng đồng thuận trong một số vấn đề, lĩnh vực, nhất là chính trị - an ninh ngày càng khó khăn do chịu nhiều tác động, chi phối của bên ngoài.

Tình hình trong nước:

- Sau 30 năm đổi mới, thế, lực, uy tín của nước ta tăng lên đáng kể, kinh tế bước lên nấc thang cao hơn trong kinh tế toàn cầu.

- Trong 5-10 năm tới, chúng ta vừa phải khắc phục những hạn chế, khó khăn nội tại của nền kinh tế, vừa phải cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, phải dành nhiều nguồn lực hơn cho củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, bảo đảm an sinh xã hội.

- Có nhiều cơ hội và thách thức từ việc triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

3/ Một số chủ trương, chính sách lớn

3.1/ Một số chủ trương, chính sách chung:

- Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa hội nhập, tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, có khả năng ứng phó với biến động; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế.

- Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế.

- Tiếp tục thực hiện 3 đột phá chiến lược.

- Trong 5-10 năm tới tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các cơ chế, chính sách phòng vệ thương mại, phòng ngừa và giải quyết các tranh chấp quốc tế.

3.2/ Các chủ trương, chính sách cụ thể:

(1) tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức.

(2) Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật.

(3) Nâng cao năng lực cạnh tranh.

(4) Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

(5) Tăng cường quốc phòng, an ninh.

(6) Nâng cao, phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế.

(7) Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc.

(8) Giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

(9) Giải quyết tốt các vấn đề môi trường.

(10) Đổi mới tổ chức, hoạt động của tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp.

 

 

Tin liên quan

Cụm thi đua số III: Tổng kết phong trào thi đua năm 2017, ký kết giao ước thi đua năm 2018(14/11/2017 8:25:59 SA)

ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ, SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG LẦN THỨ V - NHIỆM KỲ 2017-2022(30/10/2017 7:56:58 SA)

KÝ KẾT CHƯƠNG TRÌNH PHỐI HỢP GIỮA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỚI HỘI NGƯỜI CAO TUỔI TỈNH LAI CHÂU(24/10/2017 9:23:06 SA)

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính(24/10/2017 10:35:23 SA)

Xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ là yêu cầu cấp bách(12/09/2017 4:20:12 CH)

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH LAI CHÂU

Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Văn Lương, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường

Trụ sở cơ quan: Tầng 3, Nhà F, Trung tâm Hành chính - Chính trị tỉnh Lai Châu

Điện thoại: 02133.791.905 - Email: vpstnmt@gmail.com

Ghi rõ nguồn http://sotnmt.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này.


...